Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến khức kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến khức kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 7, 2018

Ngụy biện Cửa sổ vỡ (Broken Window Fallacy)

Ngụy biện Cửa sổ vỡ (Broken Window Fallacy)

Ngụy biện Cửa sổ vỡ (Broken Window Fallacy) có thể dễ dàng bắt gặp trong các chương trình vận động tài trợ từ chính phủ của các chính trị gia. Có những dẫn chứng tưởng chừng như rất logic và khoa học nhưng người nghe không biết rằng một nửa sự thật đã bị che đậy. Bằng cách khai thác những yếu tố không nhìn thấy, người lập luận có thể dễ dàng dẫn dắt người nghe đi theo quan điểm của mình. Vậy thế nào là Ngụy biện Cửa sổ vỡ? Cách tốt nhất để giải thích cho thuyết này là sử dụng chủ đề chiến tranh. Vì thế, tôi sẽ bắt đầu bài viết này bằng câu hỏi: “Liệu chiến tranh có tốt cho nền kinh tế không?”.

Ai cũng biết chiến tranh luôn mang lại đau thương cho nhân loại. Nhưng có một câu chuyện hoang đường là chiến tranh, bằng cách nào đó, có thể giúp thúc đẩy nền kinh tế. Và một số người đã tìm được những lập luận, bằng chứng có vẻ như ủng hộ cho câu chuyện hoang đường trên. Tất nhiên, không ai muốn chiến tranh xảy ra. Và nhiều người tự an ủi “trong cái rủi có cái may” rằng chiến tranh sẽ tạo ra nhiều việc làm, hay cho rằng chiến tranh cũng là một cách để thúc đẩy kinh tế. Thực tế, niềm tin vào thứ nghịch lý này xuất phát từ cách tư duy kinh tế sai lầm.

Chiến tranh giúp thúc đẩy nền kinh tế?

Lập luận “chiến tranh giúp thúc đẩy nền kinh tế” như sau: Giả sử nền kinh tế đang chạm đáy tại chu kỳ suy thoái, lúc này thất nghiệp tăng cao và chi tiêu tiêu dùng giảm. Nhưng sau đó, đất nước bắt đầu chuẩn bị cho chiến tranh. Chính phủ sẽ cần phải trang bị cho quân đội vũ khí, đạn dược, vật dụng cần thiết để chiến thắng cuộc chiến. Nhiều doanh nghiệp sẽ nhận được những bản hợp đồng “béo bở” từ việc cung cấp trang thiết bị cho quân đội, dẫn đến tăng nhanh nhu cầu thuê lao động để phục vụ sản xuất, từ đó làm giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp. Nhiều người có việc làm đồng nghĩa chi tiêu tiêu dùng sẽ tăng lên. Chi tiêu càng nhiều sẽ càng thúc đẩy khu vực bán lẻ, và khu vực bán lẻ sẽ phải tuyển thêm nhiều nhân viên nữa để mở rộng kinh doanh, tỷ lệ thất nghiệp vì thế sẽ càng giảm hơn nữa.
Một hoạt động tích cực đã được tạo ra bởi chính phủ trong quá trình chuẩn bị cho chiến tranh. Bạn có tin vào câu chuyện đó không? Nếu có, bạn đã mắc phải một lỗi ngụy biện mà các nhà kinh tế học thường gọi là Ngụy biện Cửa sổ vỡ (Broken Window Fallacy). Câu chuyện trên là một thiếu sót rất lớn về mặt logic, vì nó chỉ nêu ra những thứ có thể nhìn thấy, chứ không nói ra những thứ mà ta không thấy.

Ngụy biện Cửa sổ vỡ (Broken Window Fallacy)

Thuyết Ngụy biện Cửa sổ vỡ được đưa ra bởi Frédéric Bastiat vào năm 1850. Sau này, một nhà báo chuyên bình luận kinh tế – Henry Hazlitt – đã giải thích thuyết này trong cuốn sách của mình là Economics in One Lesson theo một cách dễ hiểu hơn. Henry đã đưa ra một câu chuyện như sau:
Có một nhóm thiếu niên gồm những đứa trẻ tinh nghịch ném viên gạch vào một tiệm bánh làm vỡ kính cửa sổ. Ông chủ tiệm bánh nổi điên lên và đám đông xúm lại trách móc lũ trẻ. Bỗng một người trong đám đông bước ra phân tích rằng: “Ồ không! Các bạn nên mỉm cười với đám trẻ này vì nó vừa tạo ra việc làm. Cửa sổ vỡ, ông chủ phải chi tiền để sửa chữa cửa sổ này. Nó sẽ giúp người thợ sửa kính có việc làm và có thêm tiền. Sau đó người thợ này có thể đi ăn tại một nhà hàng nào đó, mua quần áo mới, hay chi tiêu những gì anh ấy thích. Và điều này sẽ tạo ra thêm việc làm cho những người khác. Theo đó, dòng chi tiêu sẽ nhân lên và công ăn việc làm được tạo ra từ việc làm vỡ cửa sổ của đám trẻ nghịch ngợm”. Lúc này, đám đông thấy rằng việc phá hoại này có vẻ mang lại nhiều lợi ích. Và thay vì cố gắng ngăn chặn mọi người phá hoại của cải, tài sản thì ta nên lập một đội quân thiếu nhi “phá làng phá xóm” cầm gạch khắp nơi để ném vào cửa sổ. Và thử nghĩ xem, nếu cánh cửa đủ lớn thì ta sẽ có được một thời kỳ bùng nổ kinh tế?
Ngụy biện Cửa sổ vỡ (Broken Window Fallacy)
Ngụy biện Cửa sổ vỡ (Broken Window Fallacy)
Tất nhiên là không phải như vậy. Vấn đề là chúng ta đang tập trung vào những thứ nhìn thấy được, mà không để ý đến những thứ không thể nhìn thấy. Chúng ta chỉ nhìn thấy một cửa sổ mới nhưng lại không thấy được ông chủ tiệm bánh sẽ làm gì với số tiền của mình nếu không phải sửa cánh cửa đó. Giả sử ông chủ tiệm bánh phải sửa tấm kính hết 600,000đ. Đám đông đã không xét đến yếu tố ông chủ sẽ làm gì với 600,000đ nếu không phải sửa nó.
Ông chủ sẽ có 600,000đ để chi tiêu cho bản thân như mua bộ quần áo mới, đi chơi cuối tuần, hay giao dịch với những thương gia khác, và điều đó cũng tạo ra việc làm cho xã hội. Thay vì lúc đầu ông chủ có một cửa sổ và 600,000đ, sau khi sửa xong cửa sổ thì ông chỉ còn mỗi chiếc cửa sổ. Việc cửa sổ bị vỡ sẽ làm thợ sửa kính có thêm việc làm nhưng lại lấy đi công việc của những người khác, đồng thời xã hội bị mất đi một cái cửa sổ.
Lỗi logic trong Ngụy biện Cửa sổ vỡ có thể bắt gặp tại bất cứ cuộc vận động tài trợ từ chính phủ. Một chính trị gia sẽ tuyên bố rằng chương trình cung cấp áo khoác mùa đông cho các gia đình nghèo là một thành công vang dội, bởi nó giúp những người nghèo không có áo ấm trong thời tiết lạnh. Tất nhiên, thứ chúng ta không nhìn thấy là việc bớt lại khẩu phần ăn trưa của các học sinh tại các trường công, hay hoạt động kinh tế bị giảm bởi việc tăng thu thuế để trả cho những chiếc áo khoác.
Hay trong một ví dụ thực tiễn, nhiều dư luận viên thường cho rằng không thể cấm công ty thép Formosa vì nó có đóng góp lớn vào GDP của Việt Nam và tạo ra hàng ngàn công việc cho người dân. Nhưng thứ họ không nhìn thấy là nước thải công nghiệp đã giết chết ngành thủy sản và làm mất công ăn việc làm của dân chài, chưa kể khoản ngân sách khổng lồ để khắc phục hậu quả môi trường do Formosa gây ra.

Tại sao chiến tranh không giúp ích cho nền kinh tế?

Từ thuyết Ngụy biện Cửa sổ vỡ, ta dễ dàng thấy được tại sao chiến tranh sẽ không mang lại lợi ích cho nền kinh tế. Số tiền chi tiêu cho chiến tranh, vì vậy, sẽ không được chi tiêu cho các lĩnh vực khác. Có ba phương thức để chính phủ huy động ngân sách cho chiến tranh:
1. Tăng thuế
Tăng thuế sẽ làm giảm chi tiêu của người tiêu dùng, việc này không hề tốt cho nền kinh tế.

2. Giảm chi tiêu ở các khu vực khác
Giảm chi tiêu chính phủ sẽ có lợi cho nền kinh tế. Nhưng trong trường hợp này, chính phủ giảm chi tiêu ở các khu vực khác nhưng lại tăng cường chi tiêu trong lĩnh vực quân sự. Đây không khác gì hành động ném viên gạch vào cửa sổ trong câu chuyện của thuyết Ngụy biện Cửa sổ vỡ.

3. Tăng nợ
Tăng nợ đồng nghĩa chính phủ sẽ tăng thuế hay người tiêu dùng sẽ giảm chi tiêu trong tương lai, một trong những thứ kéo dài tình trạng trì trệ của nền kinh tế. Cộng thêm những khoản lãi suất sẽ trở thành gánh nặng ngân sách lớn cho chính phủ.

Bên cạnh đó, ta còn phải kể đến số người chết trong chiến tranh. Theo một tài liệu, số người chết trong chiến tranh thế giới thứ hai là 70 triệu người. Đây là một mất mát rất lớn về con người, tinh thần và cả về mặt kinh tế.
Chiến tranh luôn là thứ làm tổn thương mọi nền kinh tế. Chiến tranh không khác nào hành động phá hủy của cải rồi chi tiền để sửa chữa, xây dựng lại nó thay vì dùng số tiền đó để chi tiêu hoặc tạo ra thêm của cải cho xã hội. Vì thế, việc phá hoại không mang lại sự thịnh vượng, mà phá hoại sẽ phá hủy sự thịnh vượng.
Ngụy biện Cửa sổ vỡ như một thuyết hữu ích để “giải ảo” dư luận. Tôi đã xem qua một số phản biện của những người thuộc phe cánh tả, hầu hết họ đều cho rằng việc ném vỡ cửa sổ vẫn là một hành động sai nhưng… cần thiết cho nền kinh tế. Rõ ràng, họ đã mắc lỗi Ngụy biện Cửa sổ vỡ nay lại mặc thêm lỗi Ngụy biện cứng đầu (Argumentum Ad Lapidem).

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2017

12 kiến thức về kinh tế mà bạn cần biết

12 kiến thức về kinh tế mà bạn cần biết

12 kiến thức về kinh tế mà bạn cần biết
Chúng ta thảo luận rất nhiều về kinh tế nhưng đôi khi lại bỏ qua những điều cơ bản. Những gì chúng tôi chia sẻ dưới đây hy vọng sẽ giúp bạn cấu trúc lại kiến thức kinh tế của mình.
(1) Kinh tế có 2 thành phần chính là Kinh tế vi mô và Kinh tế vĩ mô

Kinh tế vi mô nghiên cứu hành vi, động cơ của người tiêu dùng, giá cả, lợi nhuận, v.v… Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế rộng hơn và những giá trị lớn hơn như lãi suất, GDP và các công cụ khác mà bạn thường thấy trong mục kinh tế của các tờ báo.
Kinh tế vi mô hữu ích hơn cho các nhà quản trị còn kinh tế vĩ mô có lợi hơn cho các nhà đầu tư. Ngoại trừ các điểm 2 và 3, tôi sẽ lướt qua kinh tế vĩ mô ở các mục khác.
(2) Luật cung – cầu: nền tảng của kinh tế
Bất cứ khi nào nguồn cung tăng sẽ làm cho giá giảm và cầu tăng sẽ làm giá tăng. Vì thế, khi bạn sản xuất thừa ngũ cốc, giá thực phẩm sẽ giảm và ngược lại. Hãy suy nghĩ một cách trực quan, bạn sẽ thấy quy luật nàyđúng ở mọi nơi trên thế giới.
(3) Hiệu dụng biên
Mỗi khi bạn có thêm 1 cái gì đó để sử dụng, giá trị của nó đối với bạn sẽ giảm đi. Vì vậy, 100$ sẽ có giá trị hơn khi bạn kiếm 1.000$/tháng so với 1 triệu đô/tháng. Điều này được sử dụng rộng rãi trong việc thiết lập giá cả.
(4) Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Đây là công cụ cơ bản nhất để đo kích thước của 1 nền kinh tế. Theo khái niệm, GDP sẽ bằng tổng thu nhập của tất cả người dân trong 1 quốc gia hoặc tổng giá trị thị trường của tất cả sản phẩm và dịch vụ được sản xuất trong quốc gia đó.
Hiện nay, Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới xét theo GDP (khoảng 14 ngàn tỷ USD). Điều đó có nghĩa rằng, mỗi năm có 14 ngàn tỷ USD giá trị hàng hoá và dịch vụ được sản xuất tại Mỹ.
(5) Tốc độ tăng trưởng
Sự phát triển của 1 nền kinh tế được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP. Vì GDP là thước đo thu nhập của 1 quốc gia, nên tốc độ tăng trưởng GDP sẽ cho thấy thu nhập trung bình một người dân tăng lên bao nhiêu mỗi năm.
(6) Lạm phát
Bạn đã biết rằng giá của hầu hết các SP hiện nay đều cao hơn so với thời cha ông chúng ta. Lạm phát (tính theo phần trăm) cho thấy mức độ tăng giá củahàng hoá so với năm trước. Trong nền kinh tế phát triển, lạm phát hàng năm vào khoảng 2% – điều đó có nghĩa rằng giá các món hàng tăng trung bình 2% mỗi năm.
Vai trò cơ bản của NHTW là quản lý tỉ lệ này và giữ nó ở 1 con số dương thấp. Phía trên là biểu đồ cho thấy mức độ lạm phát của Mỹ trong suốt 100 năm qua.
(7) Lãi suất
Khi bạn cho ai đó vay tiền, bạn mong đợi sẽ nhận được thêm một khoản tiền đền bù. Phần tiền này gọi là tiền lãi. Lãi suất là 1 số dương phản ánh số tiền bạn sẽ nhận được “thừa ra” so với khoản ban đầu bạn cho vay.
Hãy theo dõi biểu đồ lãi suất ở trên. Trong ngắn hạn, lãi suất thường được quy định bởi các NHTW. Hiện nay, nó gần tiến về mức 0. Về lâu dài, lãi suất sẽ do thị trường quyết định và phụ thuộc vào tỉ lệ lạm phát và viễn cảnh của nền kinh tế. Những cơ chế NHTW dùng để kiểm soát lãi suất ngắn hạn được gọi là chính sách tiền tệ.
(8) Lãi suất – Lạm phát – Tăng trưởng
Gần như có 1 mối quan hệ ngược chiều giữa lãi suất và tỉ lệ tăng trưởng GDP, ngoài ra lãi suất có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ lạm phát. Vì thế, khi bạn gia tăng lãi suất, lạm phát sẽ có xu hướng đi xuống, tuy nhiên đi cùng với nó là kinh tế phát triển chậm lại.
Do vậy, không có gì khó hiểu khi việc quy định lãi suất luôn khiến các nhà chức trách phải đau đầu. Ở Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) chịu trách nhiệm quy định lãi suất ngắn hạn và đó luôn là một trong những thông tin kinh tế được theo dõi nhiều nhất.
(9) Chính sách tài khóa
Chính phủ có thể kiểm soát nền kinh tế bằng cách điều chỉnh chi tiêu. Nhóm các cơ chế sử dụng ngân sách hình thành nên chính sách tài khóa. Khi chính phủ chi tiêu nhiều, dẫn đến cầu nhiều hơn và giá tăng nhiều hơn. Điều này có nghĩa rằng nền kinh tế tăng trưởng tốt nhưng đồng thời mang theo lạm phát cao và ngược lại.
Do đó, chính phủ cố gắng chi tiêu nhiều hơn trong giai đoạn tăng trưởng thấp và lạm phát thấp, đồng thời thắt chặt chi tiêu trong thời kì tăng trưởng và lạm phát cao.
(10) Chu kỳ kinh tế
Nền kinh tế có những thời kì bùng nổ và khủng hoảng với chu kỳ khoảng 7 năm. Khởi đầu chu kỳ sẽ là sự bùng nổ của nền kinh tế, sau đó nó phát triển đến mức cực thịnh, tiếp đến sẽ bước vào suy thoái (thời kì tăng trưởng âm/thất nghiệp gia tăng) và cuối cùng là sang chu kỳ tiếp theo.
(11) Chi phí cơ hội
Khi thực hiện một hành động gì đó, bạn có thường so sánh lợi ích của hành động ấy so với các hành động khác. Ví dụ, vào tối thứ 6 khi phải làm việc cật lực cho 1 dự án, bạn có thể nghĩ rằng “Trời đất, mình đáng lẽ nên làm việc gì đó khác”. “Việc khác” ấy (trong trường hợp này là tiệc tùng cùng bạn bè) có 1 giá trị cao, và nó chứng tỏ dự án hiện tại của bạn tốt hơn, hấp dẫn hơn.
Giá trị của hành động mà bạn bỏ lỡ được gọi là “chi phí cơ hội”. Vì thế, nếu bạn bỏ 1 công việc trả lương 120 ngàn đô la/năm để bắt đầu lại, chi phí cơ hội của việc bắt đầu lại là 120 ngàn đô la/năm. Bạn nên chọn những công việc mang lại doanh thu cao hơn những công việc khác mà mình đã từ bỏ.
(12) Lợi thế so sánh
Bạn đang phát triển một dự án công nghệ và vào một ngày nọ, khách hàng đến và hỏi rằng liệu bạn có thể xây dựng một trang web cho họ không. Liệu bạn sẽ đồng ý phát triển trang web cho họ hay nhường cơ hội này lại cho người bạn của mình? Làm thế nào để quyết định được?
Thông thường một người sẽ tính toán anh ta sẽ mất bao nhiêu thời gian để xây dựng trang web và liệu có thể sử dụng thời gian đó để kiếm được nhiều hơn với dự án đang thực hiện. Sau đó, anh ta sẽ tính xem liệu người bạn kia có thể phát triển trang web hiệu quả hơn mình hay không.
Nếu người bạn đó có thể mang lại hiệu quả tốt hơn và bạn có nhiều điều phải làm với dự án của mình, bạn sẽ bỏ qua cơ hội này. Đây được gọi là lý thuyết về lợi thế so sánh. Người bạn của bạn có một lợi thế và bạn hoàn toàn không có lý do gì để nhận lấy công việc kia.
Các quốc gia, doanh nghiệp và người dân chỉ nên làm những việc họ có thế mạnh và dành phần còn lại cho người khác.
Nguồn: Phố Chứng khoán

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2016

Mã số mã vạch các nước

Mã số mã vạch các nước

Mã số mã vạch các nước
Mua bán hàng hóa cần xen mã số mã vạch để biết nước xản xuất hàng hóa, quốc gia. VDtra mã vạch sản phẩm hàng hóa của Việt Nam là: 893, của Coupons là: 050 - 059 (050 đến 059). Để nhận biết mã hàng hóa có là mã nước nào, sản xuất ở đâu?
Xem bảng danh sách ký mã hiệu mã vạch các nước trên thế giới, các nước đã đăng ký vào hệ thống GS1 quốc tế (GS1 Country) giúp người tiêu dùng cách nhận biết, phân biệt hàng hóa các nước qua ký hiệu mã số mã vạch (MSMV):
Xem tra cứu mã số mã vạch của nước nào thì đọc thông qua 3 số đầu tiên của mã vạch sẽ suy ra được quốc gia mà doanh nghiệp đăng ký mã số mã vạch hàng hóa đó:
Made in
000 - 019 GS1 Mỹ (United States) USA
020 - 029 Phân phối giới hạn (Restricted distribution) thường chỉ cung cấp cho sử dụng nội bộ (MO defined, usually for internal use)
030 - 039 GS1 Mỹ (United States) 
040 - 049 Phân phối giới hạn (Restricted distribution) thường chỉ cung cấp cho sử dụng nội bộ (MO defined, usually for internal use)
050 - 059 Coupons
060 - 139 GS1 Mỹ (United States) 
200 - 299 029 Phân phối giới hạn (Restricted distribution) thường chỉ cung cấp cho sử dụng nội bộ (MO defined, usually for internal use)
300 - 379 GS1 Pháp (France) mã vạch sản phẩm của Pháp
380 GS1 Bulgaria
383 GS1 Slovenia
385 GS1 Croatia
387 GS1 BIH (Bosnia-Herzegovina)
400 - 440 GS1 Đức (Germany)
450 - 459 & 490 - 499 GS1 Nhật Bản
 (Japan) đầu số mã vạch của Nhật
460 - 469 GS1 Liên bang Nga (Russia: 
460, 461, 462, 463, 464, 465, 466, 467, 468, 469)
470 GS1 Kurdistan
471 GS1 Đài Loan (Taiwan)
474 GS1 Estonia
475 GS1 Latvia
476 GS1 Azerbaijan
477 GS1 Lithuania
478 GS1 Uzbekistan
479 GS1 Sri Lanka
480 GS1 Philippines
481 GS1 Belarus
482 GS1 Ukraine
484 GS1 Moldova
485 GS1 Armenia
486 GS1 Georgia
487 GS1 Kazakhstan
489 GS1 Hong Kong
500 - 509 GS1 Anh Quốc - Vương Quốc Anh (UK)
520 GS1 Hy Lạp (Greece)
528 GS1 Li băng (Lebanon)
529 GS1 Đảo Síp (Cyprus)
530 GS1 Albania
531 GS1 MAC (FYR Macedonia)
535 GS1 Malta
539 GS1 Ireland
540 - 549 GS1 Bỉ và Lúc xăm bua (Belgium & Luxembourg: 
540, 541, 542, 543, 544, 545, 546,547, 548, 549)
560 GS1 Bồ Đào Nha (Portugal)
569 GS1 Iceland
570 
- 579 GS1 Đan Mạch (Denmark: 570, 571, 572, 573, 574, 575, 576, 577, 578, 579)
590 GS1 Ba Lan (Poland)
594 GS1 Romania
599 GS1 Hungary
600 - 601 GS1 Nam Phi (South Africa)
603 GS1 Ghana
608 GS1 Bahrain
609 GS1 Mauritius
611 GS1 Ma Rốc (Morocco)
613 GS1 An giê ri (Algeria)
616 GS1 Kenya
618 GS1 Bờ Biển Ngà (Ivory Coast)
619 GS1 Tunisia
621 GS1 Syria
622 GS1 Ai Cập (Egypt)
624 GS1 Libya
625 GS1 Jordan
626 GS1 Iran
627 GS1 Kuwait
628 GS1 Saudi Arabia
629 GS1 Tiểu Vương Quốc Ả Rập (Emirates)
640 - 649 GS1 Phần Lan (Finland)
690 - 695 GS1 Trung Quốc (China: 690, 691, 692, 693, 694, 695) là đầu số mã vạch hàng trung quốc
700 - 709 GS1 Na Uy (Norway)
729 GS1 Israel
730 - 739 GS1 Thụy Điển (Sweden)
740 GS1 Guatemala
741 GS1 El Salvador
742 GS1 Honduras
743 GS1 Nicaragua
744 GS1 Costa Rica
745 GS1 Panama
746 GS1 Cộng hòa Đô mi nic (Dominican Republic)
750 GS1 Mexico
754 - 755 GS1 Canada
759 GS1 Venezuela
760 - 769 GS1 Thụy Sĩ (Switzerland) 
770 GS1 Colombia
773 GS1 Uruguay
775 GS1 Peru
777 GS1 Bolivia
779 GS1 Argentina
780 GS1 Chi lê (Chile)
784 GS1 Paraguay
786 GS1 Ecuador
789 - 790 GS1 Brazil
800 - 839 GS1 Ý (Italy)
840 - 849 GS1 Tây Ban Nha (Spain)
850 GS1 Cuba
858 GS1 Slovakia
859 GS1 Cộng hòa Séc (Czech) là đầu mã số mã vạch Cộng hòa Séc
GS1 YU (Serbia & Montenegro)
865 GS1 Mongolia
867 GS1 Bắc Triều Tiên (North Korea)
868 - 869 GS1 Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey)
870 - 879 GS1 Hà Lan (Netherlands)
880 GS1 Hàn Quốc (South Korea) là 3 số đầu mã hàng của Hàn Quốc
884 GS1 Cam pu chia (Cambodia)
885 GS1 Thái Lan (Thailand)  3 số đầu của mã sản phẩm hàng hóa Thái Lan
888 GS1 Sing ga po (Singapore)
890 GS1 Ấn Độ (India)
893 GS1 Việt Nam (thuộc Châu Á)
899 GS1 In đô nê xi a (Indonesia)
900 - 919 GS1 Áo (Austria)
930 - 939 GS1 Úc (Australia) 
940 - 949 GS1 New Zealand
950 GS1 Global Office
955 GS1 Malaysia
958 GS1 Macau
977 Dãy số tiêu chuẩn quốc tế dùng cho ấn bản định kỳ/  International Standard Serial Number for Periodicals (ISSN)
978 Số tiêu chuẩn quốc tế dành cho sách/ International Standard Book Numbering (ISBN)979 Số tiêu chuẩn quốc tế về sản phẩm âm nhạc/ International Standard Music Number (ISMN)
980 Refund receipts/ giấy biên nhận trả tiền981 - 982 Common Currency Coupons/ phiếu, vé tiền tệ nói chung
990 - 999 Coupons/ Phiếu, vé
Trên đây là ký hiệu mã số mã vạch hàng hóa các nước, để biết hàng hóa sản xuất tại nước nào hay xuất xứ quốc gia mà doanh nghiệp đăng ký mã số mã vạch hàng hóa đó.
Như các quốc gia sản xuất: điện thoại như iphone 5, đồ điện tử, điện máy, thuốc dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm, thời trang, nội thất, đồ chơi, hàng tiêu dùng... hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Mã số mã vạch
Cấu tạo mã số mã vạch barcode
Tính Mã số mã vạch để biết Hàng thật:
Hướng dẫn cách tính số kiểm tra mã vạch sản phẩm EAN -13
1. Từ phải sang trái, cộng tất cả các con số ở vị trí lẻ (trừ số kiểm tra ở cuối cùng)
2. Nhân kết quả bước 1 với 3
3. Cộng giá trị của các con số còn lại
4. Cộng kết quả bước 2 với bước 3
5. Lấy bội số của 10 lớm hơn và gần kết quả bước 4 nhất trừ đi kết quả bước 4, kết quả là sô kiểm tra.

Ví dụ Tính số kiểm tra cho mã: 893460200107 C
Bước 1: 7 + 1 + 0 + 0 + 4 + 9 = 21
Bước 2: 21 x 3 = 63
Bước 3: 8 + 3 + 6 + 2 + 0 + 0 = 19
Bước 4: 63 + 19 = 82
Bước 5: 90 – 82 = 8 (là số kiểm tra ở cuối cùng)
Mã EAN-13 hoàn chỉnh là : 
893460200107 8 (là hàng thật)
Danh mục các mã số dành cho những nước hiện chưa đăng ký vào GS1 sử dụng về sau này:
140 - 199
381, 382, 384, 386 & 388
390 - 399
441 - 449
472, 473 & 483
510 - 519
521 - 527
532 - 534 & 536 - 538
550 - 559
561 - 568
580 - 589
591 - 593 & 595 - 598
602 
& 604 - 607
610, 612, 614, 617, 620 & 623
630 - 639
650 - 689
696 - 699
710 - 728
747 - 749
751 - 753 & 756 - 758
771, 772, 774, 776 & 778
781 - 783, 785, 787 & 788
791 - 799
851 - 857
861 - 864 & 866
881 - 883, 886, 887 & 889
891, 892, 894, 895, 897 & 898
920 - 929
951 - 954, 956 & 957
959 - 976
983 - 989

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

Bộ tranh thú vị về sự khác biệt giữa người thành công và kẻ thất bại

Bộ tranh thú vị về sự khác biệt giữa người thành công và kẻ thất bại

Nếu muốn trở thành người thành công trong cuộc sống, ít nhất bạn nên nắm được 10 bí quyết sau đây.


HỌC + LÀM = GIÀU Con Đường Thành Công
Kẻ thất bại luôn ôm trong lòng mối hận thù. Còn người thành công luôn biết cách tha thứ cho lỗi lầm của người khác.

HỌC + LÀM = GIÀU Con Đường Thành Công
Kẻ thất bại luôn cầu cho những hi vọng của người khác không thành hiện thực. Còn người thành công thì mong mơ ước của mọi người thành công.

HỌC + LÀM = GIÀU Con Đường Thành Công
Người thành công luôn đặt mục tiêu rõ ràng, còn kẻ thất bại thì ngược lại.

HỌC + LÀM = GIÀU Con Đường Thành Công
Kẻ thất bại luôn cáu giận. Người thành công lúc nào cũng vui tươi.

HỌC + LÀM = GIÀU Con Đường Thành Công
Kẻ thất bại luôn giấu thông tin. Người thành công thì biết chia sẻ thông tin.

HỌC + LÀM = GIÀU Con Đường Thành Công
Kẻ thất bại xem TV nhiều. Người thành công thì đọc nhiều sách.

HỌC + LÀM = GIÀU Con Đường Thành Công
Kẻ thất bại thường ngủ quên trong quá khứ. Người thành công sống từng giây phút hiện tại.

HỌC + LÀM = GIÀU Con Đường Thành Công
Người thành công luôn biết chính xác điều mình muốn. Còn kẻ thất bại thì không biết mình đang muốn gì.

HỌC + LÀM = GIÀU Con Đường Thành Công
Kẻ thất bại nghĩ rằng mình biết mọi thứ. Người thành công không ngừng học hỏi những điều mới mẻ.

HỌC + LÀM = GIÀU Con Đường Thành Công
Kẻ thất bại chỉ biết đổ lỗi cho người khác. Người thành công nhận trách nhiệm về mình.
Nguồn: Vov.vn

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

Tăng tốc thành công là tăng tốc thất bại lên gấp đôi

Tăng tốc thành công là tăng tốc thất bại lên gấp đôi

Hãy chúc mừng mình trước những thành công nhỏ và trước những thất bại lớn. Chìa khóa để thành công chính là hãy thất bại nhiều hơn mức mà người bình thường sẵn lòng đón nhận.
Thất bại biến kẻ thua thành kẻ thắng
Bất kể con đường bạn đi để đến đích thành công và hạnh phúc là như thế nào, bạn sẽ luôn luôn phải vượt qua những chướng ngại và nghịch cảnh. Thêm nữa, bạn sẽ phải trải nghiệm sự thất bại. Tuy nhiên, thất bại nếu biết nhìn đúng cách, có thể có những khía cạnh tích cực của nó.
Bất cứ điều gì có giá trị đều đòi hỏi sự rủi ro, mạo hiểm, và trong hầu như bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc đời, mạo hiểm cũng đều tỷ lệ thuận với phần thưởng. Nói chung, nguy hiểm càng cao, phần thưởng càng lớn.
thất bại
Luôn luôn, không hề có chuyện có thành công mà không có thất bại. Lạ lùng thay, việc hoạch định hàng lô các trở ngại và thất bại có thể làm tăng cơ hội thành công của bạn.
Thất bại có thể là bài học tuyệt vời nhất mà bạn nhận được trong đời. Điều mà tất cả những người thành công có là một thái độ rất tuyệt vời về sự thất bại. Nếu muốn làm người thành công, bạn phải sẵn sàng thua trong một vài trận đánh để chiến thắng cả cuộc chiến.

Sự thật là tất cả những người thành công thật sự đều có óc sáng tạo và đã tính toán những rủi ro, trong sự hy vọng họ sẽ trải nghiệm mức độ thất bại dễ chịu nào đó. Thật vậy, hành trình đến thành công sẽ luôn đòi hỏi phải có khá nhiều thất bại, điều mà trái với suy nghĩ của mọi người, rất tốt cho chúng ta. Chìa khóa để thành công chính là hãy thất bại nhiều hơn mức mà người bình thường sẵn lòng đón nhận. Chỉ là đừng để cho sự thất bại lấp đầy tâm trí của mình giống như phần đông người ta hay như vậy.
Tăng tỷ lệ thất bại lên gấp đôi
Rất có thể bạn sẽ nhận ra cấu trúc này. Thất bại. Thất bại. Thất bại. Thất bại. Thành công! Thất bại. Thất bại. Thất bại. Thành công! Vấn đề là thường thì chúng ta sẽ trải nghiệm khá nhiều thất bại trước khi đạt được thành công. Thật vậy, đường đến thành công được lát bằng rất nhiều thất bại và không có gì khác nữa. Do đó, tăng tỷ lệ thành công lên gấp đôi chính là tăng tỷ lệ thất bại lên gấp đôi.
Sẽ có những lúc mọi chuyện chẳng đi đến đâu cả. Nhưng tất cả đều phải biến mất. Hoàn toàn trái lại. Bạn sẽ học được rất nhiều từ một ngày gặp những vấn nạn và khó khăn lớn, hơn là từ cả một tháng vui vẻ và thoải mái. Hãy chúc mừng mình trước những thành công nhỏ và trước những thất bại lớn.
Tất nhiên, càng thành công lớn bao nhiêu, bạn càng nổi tiếng là có nhiều sai lầm và ngớ ngẩn nhiều bấy nhiêu. Một thất bại làm cho bạn bắt đầu cất bước trên đường dẫn đến thành công; một trăm thất bại mang bạn đến đó. Trên hết, thất bại phải được khắc phục và được đón nhận bằng thái độ hóm hỉnh. Sau khi đã bị mất hết 40.000 đô cho một trong những sáng chế của mình, Mark Twain tuyên bố “Tôi đã trao nó cho một người mà tôi ghét cay ghét đắng từ lâu lẫn cả gia đình anh ta mà tôi rất muốn làm tiêu tùng”.
Đừng hốt hoảng khi một số điều quan trọng diễn ra bất ổn. Nói tóm lại, một cuộc đời không thất bại sẽ chẳng đưa bạn đến được bất cứ nơi nào có giá trị để đến cả - thế nhưng một cuộc đời với rất nhiều thất bại thì sẽ làm được điều đó.
Theo “101 điều thực sự quan trọng mà bạn đã biết nhưng vẫn quên”